Doanh nghiệp điêu đứng vì khiếu nại gian lận liên quan đến amiăng, luật sư làm chứng

(Bloomberg) Peggy L. Ableman nguyên là thẩm phán và luật sư của McCarter & English đã làm chứng hỗ trợ trong phiên xử hôm nay nhằm làm giảm khiếu nại gian lận ước tính có tổng giá trị tài sản vào khoảng 30 tỉ đô la.

Nguồn: Internet

Khiếu nại gian lận về việc bị phơi nhiễm amiăng đang tiêu tốn rất nhiều tiền của các công ty và những nạn nhân thực sự, Peggy L. Ableman nguyên là thẩm phán và luật sư của McCarter & English đã làm chứng hỗ trợ trong phiên xử hôm nay nhằm làm giảm khiếu nại gian lận ước tính có tổng giá trị tài sản vào khoảng 30 tỉ đô la.

Trong phiên điều trần trước Tiểu ban Hạ Viện Hoa Kỳ về Cải cách Thế chế, ngày nay là Luật Thương mại và Chống Độc quyền, Ableman đã nói: dưới hệ thống hiện có, những người khiếu nại về amiăng có thể đòi đền bù từ quỹ của các công ty đã phá sản và đồng thời kiện các công ty chưa phá sản, bằng cách cung cấp thông tin không nhất quán về việc họ đã bị phơi nhiễm khi nào và ra sao.

Ableman cho rằng các công ty “thường tin – một cách sai lầm – rằng sản phẩm của họ phải chịu trách nhiệm nhiều hơn so với thực tế bệnh lý của bên nguyên, bởi họ không thể biết được nội dung của từng khiếu nại cá nhân của bên nguyên”.

Các quy định đề xuất sẽ ảnh hưởng đến các công ty chưa phá sản mà đang bị kiện theo luật bồi thương thiệt hại ngoài hợp đồng, cũng như các quỹ của các công ty đã phá sản với tổng tài sản lên đến 18 tỉ đô la ngày nay, con số đó có thể tăng thêm 12 tỉ đô la một khi những trường hợp phá sản hiện tại được giải quyết, dựa trên lời làm chứng của Marc Scarcella, một nhà kinh tế học thuộc Công ty tư vấn kinh tế Bates White ở Washington.

Johns-Manville

Một làn sóng phá sản do amiăng từ năm 2000 đến nay gồm có những công ty như Owens Corning, Fibreboard Corp., Babcock & Wilcox Co., Quigley Co. – Công ty không còn hoạt động của Pfizer Inc. (PEE), Armstrong World Industries và United States Gypsum Co. Tất cả đều đi theo vết xe đổ của Johns-Manville Corp., doanh nghiệp đầu tiên đưa ra khái niệm quỹ bồi thường amiăng khi bị phá sản năm 1982.

Các công ty có thể tái cơ cấu và thoát khỏi phá sản mà không bị vướng víu đến các vụ kiện và để lại một quỹ uỷ thác và chỉ định một người quản lý phân bổ tiền bồi thường cho các nạn nhân cáo buộc, bằng cách để riêng ra một khoản tiền dành cho tất cả những khiếu nại về amiăng hiện tại và sau này.

Albeman từng là thẩm phán của Tòa án Tối cao Delaware trong hơn 29 năm và gia nhập McCarter & English vào tháng hai trong vai trò cố vấn đặc biệt về trách nhiệm pháp lý của sản phẩm. Bà ủng hộ Luật Gia tăng Tính Minh bạch về Khiếu nại Amiăng Năm 2013, một văn bản theo như bà nói sẽ hạn chế gian lận bằng cách yêu cầu các quỹ ủy thác phải báo cáo hàng quý về những khiếu nại nhận được tại phiên tòa về phá sản. Các báo cáo phải bao gồm tên và quá trình phơi nhiễm của bên nguyên và cơ sở cho bất kỳ mức bồi thường nào từng được chi trả cho họ.

Người thuộc Đảng Cộng hòa đến từ Alabama, Spencer Bachus đã nói trong bài phát biểu hôm nay: “Kẻ thù của bất kì hệ thống bồi thường nào cũng là sự gian lận và lạm dụng. Gian lận và lạm dụng bòn rút tiền của những nạn nhân thực sự cần được giúp đỡ nhanh chóng.”

Giám sát Cặn kẽ

Chủ tịch Viện Cải Cách Luật Pháp Hoa Kỳ, Lisa Rickard nói trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại trước phiên điều trần: “Quỹ phá sản vì amiăng đã vận hành mà không hề được giám sát cặn kẽ trong một thời gian dài. Các phiên tòa trên khắp đất nước đã khám phá ra những trường hợp luật sư của bên nguyên nộp đơn khiếu nại không nhất quán hoặc gian lận lên nhiều quỹ ủy thác.”

Rickard nói: “Đây không phải vấn đề lỗi hay nhầm lẫn khi mọi người điền thông tin. Các nguyên cáo theo đuổi tiền quỹ và sau đó tạo ra những khiếu nại khác nhau trong các vụ kiện” – thực tế là đòi “bồi thường hai lần”. ILR, thành lập bởi Phòng Thương mại Hoa Kỳ, hỗ trợ cải cách về luật pháp nhằm giảm thiểu cái mà người ta gọi là tầm ảnh hưởng “quá mức” của các luật sư bên nguyên đối với hệ thống luật pháp và chính trị.

Ableman đã lấy một ví dụ từ một trường hợp bên nguyên, June Montgomery, khiếu nại 22 công ty vì cô đã mắc bệnh u trung biểu mô do phơi nhiễm với sản phẩm của họ trong quá trình giặt quần áo lao động của chồng. Chỉ mãi đến phiên tố tụng, các luật sư của cô mới báo với tòa rằng Montgomery đã theo đuổi việc khiếu nại chống lại 20 quỹ đại diện cho các công ty đã phá sản với lời cáo buộc khác hẳn: rằng cô bị phơi nhiễm do chính công việc của mình.

Gánh nặng Mới

Elihu Inselbuch, luật sư của Caplin & Drysdale ở New York – công ty đại diện cho quyền lợi của các nạn nhân amiăng, đã nói rằng quy định được đề xuất là động thái của những doanh nghiệp lớn kiêm bị cáo nhằm “thêm một gánh nặng mới tốn thời gian” cho quỹ phá sản.

Inselbuch nói: quy định này sẽ “làm chậm lại quy trình xét duyệt của quỹ khiến nhiều nạn nhân có thể đã chết trước khi nhận được bồi thường do nạn nhân của u trung biểu mô thường chỉ sống được thêm 4 đến 18 tháng từ khi chẩn đoán bệnh”. Ông cũng nói thêm rằng chưa có bằng chứng về sự phổ biến của hình thức gian lận này, và những bị cáo là doanh nghiệp lớn chưa bị phá sản có thể có được những chi tiết về khiếu nại trước đây của nguyên cáo theo luật định.

Inselbuch cũng nói những nguyên cáo có thể đã bị phơi nhiễm amiăng từ nhiều nơi, và có quyền được đền bù từ nhiều hơn một bị cáo và cần lưu ý rằng các quỹ phá sản, thông thường hạn hẹp, hiện mới chỉ chi trả khoảng 25% số tiền phải bồi thường cho các nạn nhân u trung biểu mô.

Thanh toán cho Bệnh U Trung biểu mô

Một ví dụ là quỹ của Manville, hiện mới chi trả 26,250 đô la cho những nguyên đơn mắc u trung biểu mô, tương đương 7,5% của tổng số 350,000 đô la họ lẽ ra được nhận theo thỏa thuận khi thành lập quỹ.

U trung biểu mô là dạng hiếm của ung thư phổi, là một trong nhiều bệnh lý liên quan đến phơi nhiễm amiăng. Các quỹ phân bổ tiền thanh toán dựa trên loại bệnh lý mà nguyên đơn amiăng mắc phải. Sợi khoáng Amiăng được khai thác và sử dụng trong các sản phẩm nhờ đặc tính chống cháy đến những năm 1970.

Todd Brown, nguyên luật sư của Jones Day và giảng viên về phá sản và luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ở State University của SUNY Buffalo Law School, đã nói rằng sẽ không thể chỉ ra được thật sự đang có gian lận hay không nếu thiếu sự minh bạch được đề xuất theo quy định mới.

Trong lời khai đã chuẩn bị sẵn, Brown nói rằng không ai “tiếp cận được đầy đủ thông tin từ các quỹ để đưa ra được những kết luận cực đoan hay được ủng hộ – cho dù quan điểm là không hề có gian lận hoặc là gian lận đang tràn lan”.