Những trò lố của Trần Tuấn và đồng bọn

Trong năm 2014, nhiều hội nghị, hội thảo được tổ chức để bàn về việc có nên cấm sử dụng amiăng trắng hay không. Nhiều luồng ý kiến khác nhau được đưa ra và có lẽ bởi vậy, báo chí truyền thông bị bối rối không biết đưa tin ra sao cho chính xác và khách quan.

Mặc dù các bên đại diện cho hai phe ủng hộ và phản đối amiăng một mực cho rằng họ “sẵn sàng đón nhận ý kiến phản biện” và “tranh biện công bằng”, nhưng thực tế hiện tại là mặc ai người ấy nói. Thay vì tranh biện về những vấn đề y tế công cộng thì VN-BAN, mạng lưới vận động chính sách cấm amiăng trắng tại Việt Nam, hoặc là cố gắng đánh lạc hướng, nói về những thứ không liên quan hoặc tập trung tấn công cá nhân, lợi dụng tình cảm để lấy lòng người nghe.

Đánh lạc hướng

Tại hội thảo gần đây nhất của EBHPD, VIHEMA, VPHA, VN-BAN và WHO phối hợp tổ chức ngày 23/12 tại Hà Nội, TS. Trần Tuấn (EBHPD) và nhiều người khác nhấn mạnh nhiều lần rằng HHTL cho rằng amiăng không độc và không gây ung thư. Trong khi đó HHTL chưa bao giờ phủ nhận amiăng có khả năng gây ung thư. Tuyên bố của HHTL là: Không có bằng chứng cho thấy amiăng trắng làm gia tăng rủi ro tử vong do các bệnh liên quan đến amiăng, trong đó có ung thư, khi amiăng trắng là loại sợi amiăng duy nhất được sử dụng trong điều kiện có kiểm soát[1]. Do đó, tôi không hiểu tại sao TS. Vũ Thế Long (thành viên EBHPD) lại đưa hình ảnh dòng chữ cảnh báo chất độc trên bao amiăng trắng để làm gì khi giới khoa học đều đồng thuận amiăng trắng là chất độc[2].

Tiếp tục, để “phản biện” các bằng chứng được đưa ra tại Hội nghị BXD, TS. Trần Tuấn trong bài phát biểu của mình tại hội thảo ngày 23/12 đã so sánh bằng chứng của Bộ Y tế, WHO, ILO và BXD. Ông giới thiệu rất đầy đủ về một tài liệu duy nhất là IARC Monograph 100C, có cả đường link rõ ràng. Trong khi đó, ông tóm gọn nội dung của cả một Hội nghị khoa học kéo dài cả ngày với 12 bài tham luận, trong đó có 6 bài của các nhà khoa học quốc tế như sau: “Nghiên cứu từ bệnh viện Bộ Xây dựng” và “Một số bài báo do hai chuyên gia độc lập trính dẫn”. Tiếp đó ông kết luận: những chuyên gia độc lập này đều đại diện cho nhóm lợi ích – tức là ngành công nghiệp amiăng – nên tiếng nói của họ không có giá trị.

Quả thực, TS. Trần Tuấn đã trình bày một bài phản biện vô cùng ngắn gọn. Ngắn gọn đến mức người nghe, nếu không tham dự hay đọc tài liệu của Hội nghị Bộ Xây dựng, sẽ không biết được những bằng chứng cụ thể nào được đưa ra ở đó và chỉ có thể ngồi đoán rằng “ah, vậy là mấy nhà khoa học tại Hội nghị cho rằng amiăng không gây ung thư”.

Khi đọc bài viết của vị Tiến sỹ này được phát tại cùng hội thảo mang tựa đề “Amiăng trắng gây ung thư ở Việt Nam: Không đủ bằng chứng khoa học hay trò nguỵ biện khoa học” vấn đề càng được sáng tỏ. Thay vì phản biện nội dung được đưa ra bởi TS. Dunnigan (chứ không phải Dummigan nhé, thưa TS. Trần Tuấn), TS. Bernstein và còn nhiều TS. khác đã bị lờ đi trong bài viết này, tác giả lại đánh đồng kết quả nghiên cứu hàng chục năm của các nhà khoa học ở Anh, Mỹ, Thuỵ Điển, Úc, Đức… được công bố trên các tạp chí khoa học uy tín có hệ thống bình duyệt (peer-reviewed) bằng cách gọi chung là một bài phát biểu “hơn một tiếng đồng hồ”. Dường như TS. Trần Tuấn sử dụng độ dày hay độ dài của tài liệu hay bài phát biểu để đánh giá mức độ uy tín của bằng chứng bởi không ít lần ông nhấn mạnh về 90 trang của chương nói về amiăng trong IARC Monograph 100C – một tài liệu chỉ nói rằng amiăng trắng gây ung thư, nhưng không rõ trong hoàn cảnh như thế nào, liệu cứ hít phải một sợi là đã bị ung thư hay phải bị phơi nhiễm ở liều cao trong thời gian kéo dài thì mới bị. Nếu TS. Trần Tuấn cứ khăng khăng phải căn cứ vào tài liệu IARC Monograph thì tại sao TS. không vận động cấm luôn thuốc tránh thai, rượu bia, bụi gỗ, ngành công nghiệp cao su… những chất này đều nằm trong nhóm 1 các chất gây ung thư của IARC.

Tương tự, thay vì phê phán phương pháp luận hay kết quả phân tích của Chương trình Khám bệnh nghề nghiệp và đo môi trường lao động cho công nhân ngành sản xuất tấm lợp Amiăng xi măng (AC) 2008-2013 của TS. Lê Thị Hằng, Bệnh Viện Xây dựng, thì TS. Trần Tuấn chỉ nói suông rằng năng lực của BVXD không đủ để bác bỏ kết luận và bằng chứng của Bộ Y tế, và nghiễm nhiên TS. Trần Tuấn không nói rõ cho người đọc biết bằng chứng cụ thể của Bộ Y tế là gì. Theo tôi được biết, nghiên cứu duy nhất về amiăng trắng được Cục Quản lý Môi trường Y tế, Bộ Y tế thực hiện là “Nghiên cứu các bệnh liên quan đến amiăng ở những người tiếp xúc” năm 2010 – 2011 với kết quả: trong số 39 mẫu bệnh phẩm đối tượng được chẩn đoán ung thư trung biểu mô, chỉ có 08 trường hợp được Bệnh viện Hiroshima (Nhật Bản) xác định chẩn đoán, trong đó không có trường hợp nào có tiền sử rõ ràng tiếp xúc nghề nghiệp với amiăng. Kết quả này phù hợp với kết luận của Chương trình Khám bệnh nghề nghiệp nêu trên: không phát hiện tổn thương điển hình của bệnh bụi phổi liên quan đến amiăng chrysotile.

Tấn công cá nhân

Lý giải cho việc cố tình lờ đi những bằng chứng được đưa ra tại Hội nghị ngày 10/12 của Bộ Xây dựng, TS. Trần Tuấn và không ít đại biểu tại Hội thảo ngày 23/12 đều đồng tình là các nhà khoa học được Bộ Xây dựng mời đều đại diện cho “nhóm lợi ích” và do đó những gì họ nói đều không đáng tin cậy.

Ngược lại, theo ông Trần Tuấn, IARC đã xem xét hàng trăm nghiên cứu khoa học uy tín, và loại bỏ bất cứ nghiên cứu nào có thể bị chi phối bởi xung đột lợi ích để rút ra được kết luận chính xác và khách quan nhất. Tôi rất tiếc phải thưa với TS. Trần Tuấn rằng, hai tài liệu sau được chính IARC tham khảo:

  • Bernstein D, Castranova V, Donaldson K et al.  (2005). Testing of fibrous particles: short-term assays and strategies. Inhal Toxicol , 17: 497–537. PMID:16040559.
  • Langer AM & Nolan RP (1994). Chrysotile: its occurrence and properties as variables controlling biological effects. Ann Occup Hyg , 38: 427–51. . PMID:7978965

Và ai đã tham dự hay đọc tài liệu của Hội nghị Khoa học của BXD ngày 10/12 vừa rồi sẽ nhận ra ngay hai cái tên Bernstein D và Nolan RP. Vậy hai nhà khoa học này VN-BAN “không thèm xét đến” vì nghe nói họ liên quan đến “nhóm lợi ích” hay cố tình lờ đi vì những gì họ nói không phục vụ cho lợi ích của VN-BAN?

Nói đến lợi ích, viện cớ “nhóm lợi ích” để bỏ phăng cả một hệ thống luận điểm các nhà khoa học đưa ra tại Hội nghị BXD là một hình thức đánh lạc hướng và tấn công cá nhân.

Mọi tranh luận chính sách công bằng không hướng đến việc lờ đi nhóm lợi ích mà ngược lại, ta cần phải tập hợp đầy đủ các nhóm lợi ích để có được cái nhìn khái quát, đầy đủ và khách quan nhất về vấn đề đang bàn cãi. Lý do rất đơn giản là vì ai chẳng có lợi ích! Mục tiêu của chính sách công là cân bằng lợi ích dựa trên một hệ quy chiếu giá trị được công nhận. Nếu ta chỉ căn cứ vào lợi ích sức khoẻ thì tốt nhất là hãy trở về thời kỳ đồ đá, khi con người chưa đầu độc mình bằng thuốc trừ sâu, khói xe, khói thuốc lá, rượu bia, thuốc tránh thai, mì chính, vv. Đồng ý là ngành công nghiệp amiăng quan tâm đến lợi nhuận. Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với việc họ không quan tâm đến sức khoẻ người dân. Tương tự, ngành công nghiệp không amiăng (do các nước EU và Nhật Bản dẫn đầu), được các vị của VN-BAN quảng bá rộng rãi cũng có lợi ích mang tên “lợi nhuận”.

VN-BAN bảo họ có bằng chứng. Nhưng tại sao họ chỉ đưa ra bằng chứng không liên quan của WHO và ILO và tuyên bố “WHO bảo vậy, không cần nghiên cứu nữa”?. Thái độ tin tuyệt đối một nhóm vì cái uy vốn có của họ và bác bỏ một nhóm dựa trên định kiến cá nhân với ngành công nghiệp không giúp ta tiệm cận với sự thật. Nếu Châu Âu vẫn cứ tin tuyệt đối Toà thánh Vatican, vốn có uy tín là tiếng nói đại diện cho Chúa, và coi những nhà khoa học là đại diện cho ma quỷ thì không biết đến khi nào chúng ta mới biết Trái đất quay xung quanh Mặt trời.

Vậy nếu VN-BAN cho rằng bằng chứng của WHO đúng, bằng chứng được đưa ra tại Hội nghị BXD sai, thì đề nghị VN-BAN chỉ ra đúng sai ở đâu thay vì nguỵ biện, tấn công cá nhân.

Tôi xin kết lại phần bàn về “nhóm lợi ích” bằng một ví dụ đơn giản: Khi A bị xét xử vì tội giết người, không có thẩm phán nào có thể kết luận rằng mọi lời khai kháng án của A đều không có giá trị vì A có lợi ích là thoát án tù. Vì sao thì chắc ai cũng tự hiểu được.

Lợi dụng tình cảm để lấy lòng người nghe

Một chiêu khác được VN-BAN phát huy triệt để là lợi dụng tình cảm để lấy lòng người nghe. Họ đã mời đại diện người dân là hai cựu chiến binh ở Khu Chợ Sáng – Phố Lục Đầu Giang – Phường Phả Lại – Chí Linh – Hải Dương – nơi ghi nhận số ca ung thư cao bất thường trong vài năm trở lại đây. Những câu chuyện rất xúc động được kể khiến cả khán phòng phải đồng cảm với số phận bất hạnh của họ. Có lẽ bởi vậy người ta không để ý rằng họ không chỉ sống bên cạnh nhà máy tấm lợp AC hoạt động từ năm 1994 đến 2011 mà còn bên cạnh nhà máy nhiệt điện gây ô nhiễm và bụi được xây dựng từ năm 1975 và theo lời chị Nguyễn Hoàng Phượng (Pan Nature) tại hội thảo ngày 23/12, ở Hải Dương có tận 6 nguồn ô nhiễm.

Việc sử dụng người dân để quy kết các ca ung thư cho amiăng khi chưa có kết quả nghiên cứu chính thức mới là nguỵ biện. Thứ nhất, như chính VN-BAN công nhận, thời gian ủ bệnh của amiăng là 20-40 năm. Thứ hai, ung thư có nhiều nguyên nhân khác nhau; Thứ ba, để kết luận amiăng là nguyên nhân gây bệnh, ta cần có thông tin về tiền sử tiếp xúc của họ, tiền sử hút thuốc lá. Kết luận vội vàng amiăng là thủ phạm không giúp ích gì người dân mà thậm chí có thể khiến ta quên đi về 5 nguồn ô nhiễm còn lại rất có thể cũng là nhân tố gây bệnh ở khu vực.

Một nhà khoa học có tâm sẽ không kết luận vội vàng và kêu gọi người dân chung tay đi kiện HHTL dựa trên một câu chuyện xúc động. Điều đáng ra phải làm là thực hiện cuộc điều tra để xác định nguyên nhân gây ung thư ở cư dân Khu Chợ Sáng. Căn cứ vào đó, giải quyết vấn đề ô nhiễm phù hợp với pháp luật.

Nhưng không, VN-BAN lại phải sử dụng những người dân bị bệnh nhằm phục vụ cho mục đích vận động cấm amiăng của họ. Và dĩ nhiên, truyền thông thì rất thích những câu chuyện cảm động.

Trên đây chỉ là một vài ví dụ về cách các bên vận động cấm amiăng trắng ở Việt Nam làm nhiễu thông tin khiến người nghe bối rối, không biết hai bên tranh luận về vấn đề gì và đâu là sự thật. Chỉ khi hai bên biết tôn trọng và lắng nghe lẫn nhau, tập trung phản biện đúng vấn đề thay vì tận dụng triệt để các chiêu nguỵ biện nêu trên thì ta mới có thể xây dựng một chính sách công bằng và khách quan. Việc giữ một cái đầu tỉnh táo và thái độ cởi mở ở đây hay trong bất cứ tranh luận, tranh biện nào là vô cùng quan trọng. Nếu không, ta cũng chỉ là tín đồ mù quáng của một quan điểm mà thôi.

(Bài tiếp theo sẽ tập trung phân tích các bằng chứng khoa học được đưa ra với vấn đề amiăng để giúp người đọc hiểu được vấn đề cốt lõi cần phải giải quyết để có được phương án quản lý phù hợp nhất)

Tài liệu tham khảo

  1. Các bài tham luận tại Hội nghị Báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học về tác động của amiăng trắng đến sức khỏe con người – biện pháp quản lý phù hợp do Bộ Xây dựng, Uỷ ban Khoa học Công nghệ và Môi trường của Quốc hội và Bộ Khoa học & Công nghệ phối hợp tổ chức ngày 10/12/2014: Link download.
  2. Các bài tham luận tại Hội thảo Cơ sở khoa học bảo vệ sức khỏe cộng đồng tránh tác hại của amiăng trắng do EBHPD, VIHEMA và VPHA phối hợp tổ chức ngày 23/12/2014: Link download.

[1] Nồng độ sợi amiăng chrysotile không vượt quá 1 sợi/ml không khí (trung bình 8 giờ) – Thông tư số 1529/1998-TTLT/BKHCNMT-BXD ngày 17/10/1998 của liên Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường và Bộ Xây dựng

[2] Cơ quan thống kê các chật độc và các bệnh do chúng gây ra (ATSDR) của Hoa Kỳ công bố vào năm 2007 rằng amiăng chrysotile xếp thứ 119 trong danh mục các chất độc hại hàng đầu (CERCLA).